RSS

đường hoa nay vắng rồi

Fri, Jan 27, 2012

0 Comments

“Tệ nạn” đường hoa đã dẹp đêm qua, sáng nay trục chính Nguyễn Huệ và các ngã rẽ Ngô Đức Kế, Nguyễn Văn Thinh (Mạc Thị Bưởi) ướt nhèm nước rửa đường. Không khí tươi mới. Saigon lại là Saigon.

Năm nào cũng bày trò đường hoa, một nét phản văn minh mà càng ngày càng lậm. Tệ hơn tỉnh lẻ. Như hội chợ vùng sâu vùng xa. Sản phẩm thiết kế của những đầu óc nghèo tưởng tượng nhất.

Đường hoa làm cho các thị dân gốc thấy sợ cái Tết thêm. Vì kẹt đường, xe cộ nhốn nháo ngay từ khi khởi công “công trình”. Vì một trong những con đường đẹp nhất Saigon trở nên xấu không chịu nổi.

Đường hoa nay vắng rồi. Hai bài hát “truyền thống” lạc điệu, vô nghĩa nhất là Happy New YearĐiệp Khúc Mùa Xuân cũng đã tắt rồi.

Saigon lại là Saigon.

Continue reading...

megaupload

Sat, Jan 21, 2012

0 Comments

Sự kiện Megaupload bị đánh sập, bắt giam và truy tố thực sự là tin mừng cho những người sở hữu bản quyền.

Chẳng chóng thì chầy, trật tự và công bằng cũng phải được vãn hồi.

“Tương lai” gần xán lạn cho Mediafire, Filesonic, Hotfile, Fileserve…

Việc chia sẻ bản quyền phi pháp và ngang nhiên như vậy từ trước đến giờ đã là bất nhẫn rồi, ngay cả trong cách nhìn bình thường của những người có lương tâm.

Continue reading...

ăn vạ

Fri, Jan 20, 2012

0 Comments

Người mình có tính lạ, thích ăn vạ mọi lúc mọi nơi.

Cự cãi ngoài phố, chuyện riêng hai người mà dừng xe ngáng đường bất chấp luật lệ, như thể muốn cả thiên hạ làm chứng cho chuyện cãi nhau của họ.

Người nổi tiếng lên báo thanh minh này nọ về bất cứ chuyện gì, dù đúng dù sai, cũng chỉ là hình thức ăn vạ.

Một ứng xử đần độn làm mất một mối quan hệ nào đó, thay vì cúi đầu nhận chịu và học cách sống tốt hơn, thì lại cố đấm ăn xôi, lằng nhằng lầy nhầy không dứt nổi, kiểu bỏ thì thương vương thì tội, cũng là kiểu ăn vạ.

Ăn vạ bởi vì không chấp nhận được cái thực tế là người ta không chấp nhận mình.

Continue reading...

hoa xuân xưa

Sun, Jan 15, 2012

0 Comments

Hội hoa xuân ở công viên Tao Đàn, một chiều ba mươi Tết đã xa tít mù khơi, thuở tôi học lớp Chín, giữa học kỳ của năm quan trọng nhất nhì vào thời điểm đó, năm mà Bộ Giáo dục tổ chức thi tuyển vào cấp Ba thay vì vào thẳng như thường khi, năm mà những đứa trẻ như tôi, ăn uống thiếu thốn mà nhoài người ra học, học đến mức ốm bệnh chẳng thuốc nào trị được, Tết có lẽ là dịp duy nhất trong năm được người lớn cho phép ngơi ra một chút, thư giãn một chút, nói cười chạy nhảy một chút. Và chiều ba mươi Tết, cậu mợ tôi đưa tôi đến công viên Tao Đàn, nơi muôn hồng nghìn tía khoe sắc khoe hương. Những lối đi trổ đầy hoa, những khu nhà quy hoạch lại cho nghệ nhân thi hoa, những quán nước dã chiến dăm bước lại có, những đèn màu những tiếng nhạc từ loa phóng thanh, thảy đều vui nhộn, thảy đều gợi ra niềm hân hoan, gợi ra mùa xuân. Lớp Chín, mười bốn tuổi, chưa có bạn gái và đi chơi với cậu mợ, chơi với người lớn thì hân hoan cũng chẳng trọn hân hoan, nhưng với tôi thế cũng đã là diễm phúc. Hội hoa xuân năm ấy tôi không nhớ gì nhiều ngoài việc được ăn đá bào rưới xi rô đựng trong bịch ny lông cột chặt, muốn ăn phải cắn một góc bịch rồi mút lấy cái thứ nước ngọt toàn hóa chất hòa trong đá bào lạnh tê hàm. Ăn đá bào, ngồi xệp xuống rìa công viên, ngắm người qua kẻ lại, toàn những cặp tình nhân tay trong tay, dép xa bô giả da cao lênh khênh theo mốt thời ấy, thấy ít nhất cái Tết cũng không đến nỗi vô vị, có vị ngọt dù là đường hóa học, có cái lạnh dù là lạnh đá bào, có hoa có cỏ, có những nụ cười những tiếng reo hò đây đó, vậy là may mắn vậy là hạnh phúc rồi.

Thời còn làm báo Tuổi Trẻ, tôi lang thang khu Nguyễn Huệ mòn chân, nơi có tiệm rửa ảnh quen mà mỗi ngày mấy bận tôi ghé. Đường Nguyễn Huệ thuở đó còn dãy ki ốt chưa bị phá, dãy này nằm giữa đường, trong làn xe nay dành cho ô tô. Ở đó, người ta bán bưu thiếp giống như bây giờ ta còn thấy góc Hàn Thuyên - Nguyễn Du vậy. Ở đó, người ta bán tranh chép, tranh thêu, bán ảnh, đồ sơn mài, đồ lưu niệm. Mùa Tết, dọc ki ốt hóa thành chợ hoa. Gọi là chợ hoa, không phải “đường hoa” như bây giờ. Tức là bày hoa ra để bán, người ta đi dạo chẳng phải ai cũng mua hoa nhưng nếu muốn mua, đó là nơi có nhiều hoa lạ từ ngoại thành, từ Đà Lạt đem đến. Các giống hoa hiếm - uất kim hương Hà Lan, lys Pháp, thược dược Thái Lan, đều có, dĩ nhiên giá đắt kinh khủng. Những chậu mai, chậu quất thì vô thiên. Chẳng được quy hoạch, chẳng thành “đường hoa lễ hội”, mà vẫn cứ vui. Vui tràn trề. Nơi ấy chưa có ô tô chạy tràn lan, chỉ xe máy và xe đạp, chẳng ai giẫm đạp ai, len lỏi sát cánh cùng nhau xem hoa vừa vui vừa đầm ấm, mặt ai cũng đầy vẻ thân thiện, tươi tỉnh mà không lố lăng. Tươi tỉnh thì dễ, không lố lăng mới khó.

Sau này khi Nguyễn Huệ năm nào cũng biến thành đường hoa, rào chắn che mắt người, xe cộ lưu thông bất thường, tôi không còn ghé khu này vào dịp Tết. Tôi ra chợ hoa Hồ Thị Kỷ mua hoa Tết, khu chợ đầu mối này xôn xao suốt năm, ngày rằm càng đông và dịp Tết thì đúng là một lễ hội không-cần-tổ-chức. Hoa ở đây thiên hình vạn trạng, từ bình dân vạn thọ cúc vàng đến sang trọng hoàng lan, từ rẻ tiền huệ trắng đến đắt hàng vì phong thủy vạn niên thanh trạng nguyên cát tường. Mới đây tôi còn biết thêm khu Thành Thái, tức Nguyễn Tri Phương nối dài, khu này càng lúc càng có xu hướng thay thế khu Nguyễn Trãi vốn là xóm hoa mà nay bị các shop thời trang bình dân lấn lướt mất cả phong vị. Khu Thành Thái bán cây trường sinh giống Thái Lan, đủ màu, nhiều màu trông như xịt sơn lên, rất ngộ nghĩnh mà giá rất rẻ. Chỉ sợ không có sức chở về, chứ không thì có thể tha về nhà cả nửa vườn hoa.

Hoa xuân ở đâu cũng có thể đẹp nếu để tự nhiên, kể cả hoa dại ven đường. Quy hoạch, can thiệp, bẻ nghiêng bẻ vẹo, thì nào còn là đời hoa nữa.

[Đăng Pháp Luật CN, 15/1/2012]

Continue reading...

cuốn cuối cùng của cụ sển

Wed, Jan 4, 2012

0 Comments

Khám Lớn Sài Gòn là cuốn sách mỏng, đọc loáng là hết. Nhưng không hay. Vì hai lý do:

- Đề tài hẹp và serious không phải thế mạnh của cụ Vương Hồng Sển. Cụ là nhà sưu tập, không phải nhà khảo cứu, và viết gì cũng phải tán dông dài lan man dây cà dây muống. Mà lúc chấp bút cuốn này, cụ Vương đã quá già yếu, bớt hấp dẫn, bớt duyên, kể đi kể lại chuyện đã kể nhiều lần

- Các bạn Nhã Nam biên tập không nắm vững văn hóa/văn phong miền Nam, nên các chú thích của biên tập hoặc là chẳng để làm gì (có thể tra từ điển Pháp-Việt không khó) hoặc sai ngữ cảnh. Ví dụ như:

“Maison Centrale” chú thích là “Đề lao trung ương”! Ngữ cảnh của đoạn văn: tác giả kể người Tây (thực dân) gọi tránh/gọi trớ “prison” thành “maison” - “nhà tù” thành “nhà”. Nhà tù mà thành nhà mới là gọi tránh, chứ nhà tù thành… đề lao hay là ngục thất, thì tránh cái nỗi gì?

Uống nước phông tên không phải là uống nước từ cái đài phun nước (fontaine) mà là uống nước máy, nước chảy ra từ robinet công cộng.

May là cuốn này posthumous chứ cụ Vương mà đọc bản in thì cụ mắng cho vuốt mặt không kịp.

Continue reading...

tết thầy

Sun, Jan 1, 2012

0 Comments

Mùng một tết Cha mùng hai lễ Mẹ
Mùng ba tết Thầy
- Ca dao

Một cái Tết nào đó tôi đến thăm cô Oanh, cô dạy tôi môn Việt Văn hai năm cuối trung học và là người duy nhất tôi lưu giữ đầy đủ các kỷ niệm cá nhân trong số các thầy cô đã dạy tôi mười hai năm trời. Cô là người đặc biệt.

Việc tìm ra nhà cô cũng là điều đặc biệt, hồi đó chưa có điện thoại di động và điện thoại bàn vẫn còn là của hiếm, ít nhà có. Hồi đó tôi dùng thẻ gọi điện thoại công cộng, liên lạc tới lui qua năm bảy đầu mối - thầy cô cũ, bạn cũ, người quen biết, giám thị trường cũ - mới được chỉ dẫn đại khái cô ở trong con hẻm nhỏ đối diện bệnh viện Nguyễn Trãi. Bệnh viện lại là điều đặc biệt nữa, nơi ấy tôi nằm mổ cắt thịt dư (amygdales) lúc bé, lần đầu tiên nằm viện nên rất ấn tượng và cứ đi ngang qua là bồi hồi. Như vậy là tôi đảo quanh khu Nguyễn Trãi hàng chục lần, lần nào cũng quần thảo rất kinh trong các con hẻm nhỏ (có vô số hẻm san sát nhau) và hỏi thăm hầu hết cư dân ở đó, xóm người Hoa nên càng khó hỏi dò tung tích, ai cũng lắc đầu bảo không biết. Mùa Tết tôi chưa tìm ra nhà cô, nhưng vẫn quyết định mùng ba tết Thầy cho đúng lễ nghĩa truyền thống, bấy giờ tôi xong trung học từ lâu và đã đi làm, một chiếc xe máy Yamaha cà tàng chạy một nửa dẫn bộ một nửa, mùng ba tôi đi tết Thầy mặc bộ quần áo vía cố giặt cũng không hết vết dầu mỡ xe. Nơi con hẻm áng chừng có nhà cô, tôi uống cà phê ngoài quán vỉa hè, dáo dác nhìn quanh quất xem nhà ai “khả nghi”. Ly cà phê cạn và cạn thêm hai tuần trà nữa thì tôi thấy một đám bạn trẻ tuổi học sinh kéo nhau vào một ngôi nhà nhỏ mà khoảng sân bé tí được rào bằng lưới mắt cáo. Người ra mở cửa không phải cô, tôi không dám vào hỏi mà phải chờ lũ học sinh ra về mới níu một cậu trông có vẻ hiền lành chăm chỉ lại hỏi thăm. “Em có phải học trò cô Oanh không?” “Dạ phải.” “Em học trường Hùng Vương?” “Dạ.” “Anh là cựu học sinh Hùng Vương, anh muốn đến chúc Tết cô.” “Dạ, tụi em vừa chúc Tết xong, anh gọi cửa đi.”

Như vậy là sau mấy bận gian truân, mùng ba Tết năm đó tôi cũng tìm thấy nhà cô giáo, được bước vào căn nhà nhỏ hẹp khiêm nhường đó, được gặp lại cô, được hàn huyên suốt một buổi chập choạng tối, tất nhiên có vài lần phải ngắt ngang câu chuyện vì từng tốp từng tốp học trò nhỏ đến. Đó là cái Tết vui nhất trong đoạn đời mới trưởng thành của tôi.

Cô Oanh dạy tôi hai năm chứ không phải một, cô kiêm hai khối cuối cấp. Ở lớp 11, tôi chưa có gì nổi trội và bởi thế cũng ít kỷ niệm riêng với cô. Lớp 12 khác hẳn, tôi là vua cúp cua, vua đi học trễ, vua vi phạm nội quy nhà trường. Và chỉ nể có mỗi cô Oanh, chỉ học có mỗi môn Việt Văn. Cô nhỏ nhẹ, từ tốn, tác phong đĩnh đạc nghiêm cẩn. Ngày xưa cô là nữ sinh Gia Long, cái nếp ấy hằn sâu đến độ ngay cả lần gặp lại vào dịp Tết, cô vẫn cứ gợi trong tôi hình ảnh một cựu nữ sinh của một ngôi trường nổi tiếng bậc nhất Saigon cho dù tóc cô đã bạc và ánh mắt mệt mỏi. Cô nghiêm cẩn mà giàu lòng thương học trò, cư xử công bằng, khi cần thiết có thể hy sinh vì học trò, chẳng hạn rời bỏ lớp chủ nhiệm hay chuyển sang khối khác, thậm chí trường khác nếu tình hình căng thẳng - tức là cô đứng về “phe” học trò chứ không phải phe giám thị hay ban giám hiệu. Tính cách ấy hiếm. Trong lúc phần nhiều giáo chức chạy theo thành tích “lớp tôi đàng hoàng nhất”, “lớp tôi không có học sinh cá biệt”, “lớp tôi lúc nào cũng đi đầu phong trào” thì cô Oanh canh cánh cho quyền lợi học trò, đặc biệt học trò thế hệ tôi, nhiều hoang mang và không phải ai cũng tin vào tương lai. Cái Tết được đến thăm cô, thầy trò ngồi ôn lại kỷ niệm, và cô đã khóc.

“Cô thấy anh nên người, cô mừng lắm.” Tôi ngầm hiểu, cô từng chịu áp lực vì tôi và có khi cả lớp tôi nữa, khi đứng ra bênh vực hầu hết các việc làm (tất nhiên có việc sai) của lũ học trò chúng tôi: quậy phá, bỏ học, làm bài cẩu thả, chống đối thầy cô. Tôi hiểu rằng cô đã phải trải qua khá nhiều cuộc tranh luận với đồng nghiệp về việc đối đãi với chúng tôi thiên vị, “dễ dãi” như vậy. Có khi cô phải đem cả uy tín cá nhân để đặt cược cho tương lai chúng tôi, thể nào cô chả nói trước cuộc họp hội đồng giáo viên đại loại như “thông cảm cho các em, chúng đang tuổi tâm lý phức tạp, hãy cho chúng quyền hy vọng, quyền làm sai, quyền được tha thứ.” Và bây giờ, gặp lại học trò cũ, thấy rõ nó không hư hỏng, không bạc nhược, không chán đời, không thất nghiệp, thấy nó “thành người”, cô mừng là phải.

Cái Tết ấy có hương vị của ngày… 20 tháng 11, mà còn đằm thắm, sâu đậm hơn.

Mẹ tôi là nhà giáo về hưu. Năm nào học trò cũ cũng kéo về, năm nào cũng đúng mùa Tết chứ không phải 20 tháng 11. Có những người tôi chưa từng gặp bao giờ, lớn tuổi hơn cả tôi. Mà càng lớn tuổi, càng thuộc về các thế hệ xưa, thì càng lễ nghĩa, càng đàng hoàng. Nói thế không phải để trách khéo thế hệ trẻ… không đàng hoàng, mà để thấy rằng Tết chính là dịp để chỉnh trang lại lề thói, lễ nghi, để dọn mình, để nhớ về các giá trị bất biến. Tết bây giờ hay hai mươi năm, năm mươi năm nữa thì vẫn cứ chữ hiếu chữ lễ làm đầu. Mà hiếu với lễ có phải khó làm đâu, ca dao đã dạy mùng một lo cho cha mẹ, mùng hai thăm họ hàng và mùng ba đến lễ thầy cô giáo. Những năm kế tiếp mùa Tết tôi vừa kể, tôi bận sinh kế và có khi không ăn Tết ở Saigon, nên bỏ lỡ mấy dịp chúc Tết cô Oanh. Gặp lại, cô đã về hưu và con cái đã trưởng thành, học trò cũ của cô ngoài dân văn nghệ như tôi còn rất nhiều, rất nhiều người thành đạt. Kỹ sư, luật sư, doanh nhân, nhà giáo, cô bảo có những năm học trò cũ đến thăm toàn từ nguồn tôi chỉ dẫn, chứ nhà riêng của cô đâu có được cập nhật trên… mạng hay là thế giới mình chưa đủ phẳng để cô cũng chơi Facebook.

Thăm hỏi người thân quý vào dịp Tết, tôi thấy vừa vui vừa thiêng liêng hơn, dẫu rằng mẹ tôi chẳng hạn, thì ngày nào tôi chả gặp. Tết vẫn cứ là LỄ, là quãng thời gian cho mình trầm lắng lại, sống chậm, ngoái nhìn và ôn lại một đoạn đời sống.

Đoạn đời nào cũng có những dấu ấn. Thầy cô giáo là một trong những dấu ấn không mờ.

Continue reading...

đọc

Thu, Dec 15, 2011

0 Comments

The Memory Keeper’s Daughter by Kim Edwards.

His son, born first, is perfectly healthy, but the doctor immediately recognizes that his daughter has Down syndrome. For motives he tells himself are good, he makes a split-second decision that will haunt all their lives forever. He asks his nurse, Caroline, to take the baby away to an institution. Instead, she disappears into another city to raise the child as her own. Compulsively readable and deeply moving, The Memory Keeper’s Daughter is a brilliantly crafted story of parallel lives, familial secrets, and the redemptive power of love.

Continue reading...

refresh!

Thu, Dec 15, 2011

0 Comments

Không phải dễ dàng để gột rửa bản thân, đây là tôi nói về mặt tinh thần, thân thể thì tắm một phát ngâm bồn một lát hoặc cùng lắm là vào spa nằm mấy tiếng, chứ tinh thần đầu óc đâu có một chốc mà mới toanh toành toành như bánh mới ra lò như đồ sứ mới rửa được. Làm mới chính mình là việc thiên nan vạn nan, ai từng sống qua một thời cơ cực, ai từng gặp bất hạnh, gặp trắc trở, vấp ngã thì càng thấm thía điều này. Ai từng đớn đau vật vã than khóc lại càng thấm thía điều này. Nhưng trời đất kể cũng hay, cho ta mùa xuân như cơ hội để thay đổi, để hy vọng; xuân làm cây cối lên chồi nảy lộc thì đời cũng có nhiều cơ may đổi mới. Thế nên ta yêu mùa xuân…

Phụ nữ dễ thay đổi chính mình hơn đàn ông, tôi nghiệm thấy thế. Đàn ông bị sức ỳ lớn, kéo ghì người ta lại, tuổi trẻ còn có thể liều lĩnh chứ càng lớn tuổi càng trải nghiệm lại càng nhát. Phụ nữ nhẹ lòng hơn, chắc là vậy, nên chỉ cần một tia hy vọng nhỏ cũng đủ thắp ngọn lửa ấm cho những ngày mới. Mùa xuân là mùa thắp lửa. Cho một năm mới.

***

Bạn tôi, ba năm nay lận đận hết sức khỏe lại đến công việc. Cô ra vào viện nhiều hơn đi chợ, xin việc ba bảy hăm mốt ngày lại xin nghỉ việc. Vừa rồi gặp, tôi không nhận ra: cô xinh đẹp, gầy đi, đầu tóc mới, cách phục sức khác lạ. Cô khoe, em OK rồi, em đi coi bói thấy đúng, phải thay đổi thế này thì vận mệnh mới hanh thông. Thì ra vẫn có một cách tự refresh hiệu quả là… hóa trang? Âu cũng là cách.

Bạn tôi (khác), năm ngoái ly hôn. Cái Tết năm ngoái ắt hẳn là cái Tết thảm sầu nhất của cô. Nhưng mới đây gặp, cô đã hí hửng khoe, năm nay em có nhiều niềm vui lắm, em có công việc mới, chỗ ở mới, và đón tình yêu mới. À thường thì người ta tự refresh bằng cách thay đổi công việc. Đổi việc làm, tức là đổi được nhiều thứ: môi trường sống, tính chất công việc, hoàn cảnh kinh tế (có thể khá hơn hoặc tệ hơn nhưng điều này không quan trọng lắm), nỗi lòng, cách suy nghĩ về người về đời. Bước qua một chỗ làm mới tức là mở ra một mùa xuân cho chính mình. Làm một việc khác đi, cùng với các thử thách nảy sinh của nó, khiến người ta bận rộn hơn nhiều lần; điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái tinh thần, cứu ta thoát khỏi sức ỳ, và vì vậy, trong hầu hết các trường hợp, bạn sẽ đón nhận nhiều niềm vui bất ngờ. Tình yêu đến, tiền tài đến cũng là dễ hiểu.

Bạn tôi (khác nữa) bỏ hết nhà cửa con cái công việc ngoài Hà Nội để chuyển vào miền Nam, thuê nhà ở như một công chức độc thân, xin việc mới, đi làm bằng xe buýt, ăn cơm hộp mì gói như sinh viên. Cô nói, càng khác đi càng tốt, ở một nơi càng xa lạ càng hay, không dính dáng gì đến ngày hôm qua, không gợi nhớ gì chuyện cũ, không giao tiếp liên lạc với “thế giới” cũ nữa, vậy mới refresh được.

Một cô bạn (vẫn là cô khác) cho biết năm nay sẽ ăn Tết bằng chuyến lữ hành xuyên Việt. Cô bảo, cứ thấy Tết đến là chân tay rạo rực, em không quen ở nhà hay sao ấy, hay là ở nhà cả năm chỉ chờ đến Tết là cuồng chân muốn chạy. Đi dọc đất nước mà đón xuân, lãng mạn nào hơn!

Vậy thì refresh cũng có ba bảy đường. Đường rũ bỏ, đường cố quên, đường đau thương, đường mơ ước, đường hy vọng, đường lãng mạn. Đường nào thì đường, không dẫn cả về La Mã mà nếu dẫn về một bản-thân tinh tươm tươi mới, đều tốt chứ sao.

***

Thay đổi chính mình là thế nào? Là ngồi yên lặng nghĩ xem ngày mai mình sẽ ra sao. Là viết hết ra giấy các khả năng ta có cho một cuộc chuyển biến. Là quyết định rũ bỏ hết chuyện quá khứ, nỗi buồn lo, tai ách, bệnh tật. Là đi một chuyến xa rồi trở về tươi mới. Là thức dậy thật sớm đón bình minh và tự nhủ, từ ngày hôm nay ta đã khác. Là lập một dự tính thật quan trọng, thật dài hơi để hết lòng vì nó. Là một trong các điều trên hoặc tất cả chúng. Tự refresh suy cho cùng cũng mang tính bản năng, bản năng sinh tồn. Thay đổi để sống sót.

Trên kia tôi đã nói, phụ nữ dễ gột rửa bản thân hơn đàn ông, đây tôi không dám giải thích bằng câu ca dao cổ “đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” mà đâm mếch lòng các nàng, đây tôi chỉ thiết nghĩ chắc phụ nữ giàu quỹ hy vọng hơn đàn ông, phụ nữ lại nhiều cơ hội hơn (nhờ là phái yếu, nhờ đẹp, nhờ khéo ăn khéo nói) thành thử chuyển mình thành một tầm vóc khác cũng dễ dàng hơn đàn ông chăng?

Tôi ngẫm lại mình, không dễ gì mà gột rửa bản thân. Thôi chắc kiếp sau tôi xin làm… phụ nữ.

Continue reading...

đức

Wed, Dec 14, 2011

0 Comments

Có người rao bán máy ảnh Praktica, Pentacon, ống kính Carl Zeiss Jena mà lập lờ bảo “máy ảnh Đức ống kính Đức đẳng cấp”, đấy là ăn gian. Máy Đông Đức, ống kính Đông Đức, thì không có gì chung với các sản phẩm Tây Đức cả. Là một thứ nằm ngoài lề.

Cũng như Bắc Hàn không phải là Hàn và Hàn không phải là Nhật vậy. Cho là có chút kỳ thị, cũng đành thôi.

Praktica thì khác với Leica, Carl Zeiss Zena rất rất khác với Carl Zeiss. Samyang thì không thể đứng ngang với… Nikon, chẳng hạn vậy.

Cái gì ra cái nấy, con nào ra con nấy.

Continue reading...

chủ nhật

Sun, Dec 11, 2011

0 Comments

Việc thì chất đống. Thì giờ thì hiếm. Còn đúng một tháng cho cả núi việc. Còn gặp kẻ điên khùng quấy nhiễu.

Đêm qua đọc Little Brother của Cory Doctorow.

“I can’t go underground for a year, ten years, my whole life, waiting for freedom to be handed to me. Freedom is something you have to take for yourself.”

Continue reading...

võ lâm trưởng lão lương vũ sinh

Mon, Nov 28, 2011

0 Comments

[Ai Phong giới thiệu]

Lương Vũ Sinh (1924 - 2009) tên thật là Trần Văn Thống, quê ở huyện Mông Sơn tỉnh Quảng Tây. Gia đình ông giàu có, thưở nhỏ học tập ở quê nhà, thích du lịch và rất mê thơ, từ cổ điển và sách văn, sử Trung Quốc. Trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, các nhà nghiên cứu văn sử như Giản Hựu Văn, Nhiêu Tông Di, đến Mông Sơn có ở trong nhà Lương Vũ Sinh một thời gian khá lâu, cậu bé Trần Văn Thống nhờ đó mà học tập được rất nhiều và có ảnh hưởng lớn đến sáng tác của ông sau này.

Về sau, Lương Vũ Sinh vào học ở trường Lĩnh Nam đại học (nay là trường Đại Học Trung Sơn) tại khoa kinh tế. Năm 1949, ông đến Hồng Kông làm việc tại Đại công báo. Ngoài thời gian làm công việc biên tập, ông cũng viết một số bài cho báo, cái tên Trần Văn Thống rất ít khi xuất hiện trên báo, những cái tên thường dùng đều là bút danh.

- Lấy tên Lương Tuệ Như viết tiểu phẩm lịch sử.
- Lấy tên Phù Dung Ninh viết tuỳ bút văn học.
- Lấy tên Lý Phu Nhân viết hộp thư Lý Phu Nhân.
- Lấy tên Trần Lỗ viết bình luận về cờ.

Những bút danh ấy đều khá nổi tiếng. Đương nhiên lừng lẫy nhất vẫn là bút danh Lương Vũ Sinh với tiểu thuyết võ hiệp, đến nỗi phần nhiều độc giả không biết đến cái tên Trần Văn Thống nhưng nghe tên Lương Vũ Sinh thì như sấm bên tai.

Lương Vũ Sinh và Kim Dung là đồng sự và có chung sở thích: đọc võ hiệp, bình luận tiểu thuyết võ hiệp và viết tiểu thuyết võ hiệp. Lương Vũ Sinh chẳng những viết tiểu thuyết võ hiệp trước Kim Dung mà kết thúc cũng muộn hơn, thời gian sáng tác của tiểu thuyết của ông gấp đôi Kim Dung, tròn 30 năm, số lượng của ông thì hơn gấp đôi, gồm 35 bộ trường thiên tiểu thuyết.

Về cuộc đời của Lương Vũ Sinh có thể thấy những đặc điểm sau đây:

1. Lương Vũ Sinh không những đa tài nghệ mà còn có học thức uyên bác, nhất là về văn chương và lịch sử Trung Quốc, thi từ, đối liễn, kỳ đạo, về phương diện nào cũng xuất sắc, Kim Dung cũng không sánh kịp. Những tri thức này rất có ích cho sự nghiệp sáng tác tiểu thuyết võ hiệp của ông.

2. Lương Vũ Sinh là con người chí tình, có phong độ của danh sĩ Trung Quốc ngày xưa. Nghe nói trong tuần trăng mật đưa vợ đi du lịch nhưng để vợ ở khách sạn còn mình thì đi đánh cờ với bạn quên cả về. Điều này với sáng tác tiểu thuyết nhất là việc xây dựng hình tượng nhân vật chính có ảnh hưởng rất sâu đậm.

3. Lương Vũ Sinh học rất nhiều môn, kiến thức vừa rộng vừa sâu, tính cách kiên nghị và chuyên nhất, dành trọn 30 năm để viết tiểu thuyết võ hiệp, kiên trì nhẫn nại không rời. Dẫu có những khi rất vất vả khó khăn nhưng ông không hề thay đổi, không hề hối hận, đúng là phong độ hiệp sĩ. Không phải ngẫu nhiên mà ông trở thành vị tông sư của tiểu thuyết võ hiệp tân phái. Kẻ hậu học có thể coi tinh thần gắn bó suốt đời với sự nghiệp như Lương Vũ Sinh như một tấm gương.

Tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh

Lương Vũ Sinh viết 35 bộ tiểu thuyết võ hiệp gồm 160 quyển. Theo thứ tự trong Lương Vũ Sinh hệ liệt Vĩ thanh thư điếm ở Hồng Kông xuất bản, 35 bộ đó là:

1. Long hổ đấu Kinh hoa
2. Thảo mãng long xà truyện
3. Bạch phát ma nữ truyện
4. Tái ngoại kỳ hiệp truyện
5. Thất kiếm hạ thiên sơn
6. Giang hồ tam nữ hiệp
7. Hoàn kiếm kỳ tình lục
8. Bình tung hiệp ảnh lục
9. Tán hoa nữ hiệp
10. Liên kiếm phong vân lục
11. Băng phách hàn quang kiếm
12. Vân hải ngọc cung duyên
13. Băng xuyên thiên nữ truyện
14. Hiệp cốt đan tâm
15. Phong lôi chấn cửu châu
16. Băng hà tẩy kiếm lục
17. Nữ đế kỳ anh lục
18. Đại đường du hiệp truyện
19. Long phượng bảo thoa duyên
20. Tuệ kiếm tâm ma
21. Phi phượng tiềm long
22. Cuồng hiệp. Thiên kiêu. Ma nữ
23. Minh đích phong vân lục
24. Quảng lăng kiếm
25. Phong vân lôi diện
26. Hãn hải hùng phong
27. Du kiếm giang hồ
28. Mục dã lưu tinh
29. Đạn chỉ kinh lôi
30. Tuyệt tái truyền phong lục
31. Kiếm võng trần ti
32. Huyễn kiếm linh kỳ
33. Võ lâm tam tuyệt
34. Võ lâm thiên kiêu
35. Vũ Đương nhất kiếm

——

Trần Mặc (*) - Thành tựu và hạn chế của tiểu thuyết Lương Vũ Sinh

Tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh được gọi là tân phái là hoàn toàn chính xác.

Đúng như Liễu Tộ tiên sinh đã nói:

Tân phái là họ tự xưng và được độc giả thừa nhận. Loại tiểu thuyết võ hiệp của phái già như Giang hồ kỳ hiệp truyện của Bình Giang Bất Tiếu sinh thì là loại kém cỏi chẳng sánh được, đến thập kỷ 40 thì đã không thể đăng trên các báo lớn. Những tác phẩm ấy chỉ còn như những người mãi võ lưu lạc giang hồ, chẳng được ai coi trọng. Mãi đến khi tác phẩm của Lương Vũ Sinh, Kim Dung ra đời mới thay đổi được cục diện này. Báo chí Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Malaysia đều trả tiền nhuận bút rất cao, tranh thủ đăng vì độc giả muốn đọc tiểu thuyết võ hiệp… Phái mới, mới ở chỗ dùng thư pháp nghệ thuật, xây dựng nhân vật, khắc họa tâm lý, miêu tả hoàn cảnh… mà không còn chỉ dựa vào trần thuật tình tiết câu truyện như trước kia nữa. Họ còn chú ý đến chữ nghĩa, loại bỏ những thứ ngôn ngữ cũ kỹ sáo mòn, có khi còn dùng cả Tây học, hấp thu kỹ xảo biểu hiện và sắp xếp tình tiết câu truyện trong tiểu thuyết Tây Dương. Điều ấy mở ra cho tiểu thuyết võ hiệp một trời đất mới, hiện ra một cảnh tượng mới, khiến cho nhã tục cộng hưởng (người cao thanh nhã và người bình dân thưởng thức), ngay cả các bậc đại nhã công tử cũng say mê đọc, sách chẳng rời tay.

(Liễu Tô - Lương Vũ Sinh dưới bóng hiệp - Tạp chí Độc thư 1988)

Ngày nay đọc lại vẫn có thể thấy tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh phong nhã thanh tân, tài học phong phú. Tiểu thuyết Lương Vũ Sinh xứng đáng là tiểu thuyết của nhà văn trong văn học thông tục đương đại, không những là viết với tư cách nhà văn mà còn lấy quan niệm mới của văn nhân đương đại để cải tạo hình thức tiểu thuyết võ hiệp truyền thống. Nhìn từ bên ngoài tựa hồ như vẫn còn mang dáng dấp truyền thống, kỳ thực tác giả cố ý bảo lưu dáng vẻ bên ngoài còn bên trong thì đã cải biên từ quan niệm, nội dung, kỹ xảo, phương pháp, hình thức. Có thể nói Lương Vũ Sinh và Kim Dung đã nâng cao phẩm chất của tiểu thuyết võ hiệp và mở ra con đường cho tiểu thuyết võ hiệp tân phái.

Đặc sắc tiểu thuyết võ hiệp Lương Vũ Sinh gồm mấy phương diện sau đây:

Khung lịch sử

Lương Vũ Sinh tinh thông lịch sử và văn học Trung Quốc, lúc thiếu thời từng được sự dạy dỗ của các chuyên gia về sau lại viết tiểu phẩm về sử với bút danh Lương Tuệ Như, đó là một tư liệu quan trọng để lý giải đặc sắc của tiểu thuyết Lương Vũ Sinh.

Điều có thể chứng minh được vấn đề đương nhiên là phải ở bản thân tác phẩm của ông. Ngay từ khi mới bắt tay sáng tác, Lương Vũ Sinh đã định vị trí cho tiểu thuyết của mình, đó là phát huy sở trường học vấn, viết truyền kỳ lịch sử hoặc lịch sử truyền kỳ. Sử mà kỳ, kỳ mà sử, lấy sử để chở kỳ hoặc lấy kỳ bổ sung sử, đặc sắc ấy đã trở thành mô thức tự sự cơ bản trong sáng tác tiểu thuyết Lương Vũ Sinh. Có thể nói tự sự trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh được xây dựng trong cái khung lịch sử và được hoàn thành trong tầm nhìn lịch sử.

Hai bộ tác phẩm đầu tiên của ông tức Long hổ đấu Kinh Hoa và Thảo mãng long xà truyện đã lấy phong trào Nghĩa Hòa đoàn nổi tiếng cuối đời Thanh làm bối cảnh và tuyến tự sự. Hai bộ tiểu thuyết này phản ánh sự lựa chọn khó khăn giữa phản Thanh, diệt Dương (chống Thanh, diệt Tây) và phù Thanh, diệt Dương (phò Thanh, diệt Tây) của các anh hùng thảo dã và nghĩa sĩ Hán Tộc, và số phận lịch sử có tính bi kịch của phong trào Nghĩa Hòa đoàn. Đây là chỗ khác biệt rõ ràng so với tiểu thuyết võ hiệp trước kia.

Tiếp theo, một loạt tiểu thuyết trong chùm Thiên Sơn hệ liệt gồm Tái ngoại Kỳ hiệp truyện, Thất Kiếm hạ Thiên Sơn, Giang hồ tam nữ hiệp, Băng hà tẩy kiếm lục, Băng xuyên thiên nữ truyện, Vân hải ngọc cung duyên, Hiệp cốt đan tâm, Mục dã lưu tình lại viết về những biến động lịch sử từ đầu cho đến giữa đời Thanh.

Các tiểu thuyết Bạch phát ma nữ truyện, Hoàn kiếm kỳ tình lục, Bình tung hiệp ảnh, Tán hoa nữ hiệp, Liên kiếm phong vân lục là viết trên bối cảnh lịch sử triều Minh.

Các tác phẩm Cuồng hiệp, Thiên kiêu, Ma nữ, Minh đích phong vân lục, Hãn hải hùng phong, Phong vân lôi điện, Võ lâm thiên kiêu, Phi thượng tiềm long là viết về mâu thuẫn dân tộc và xung đột lịch sử phức tạp thời Liêu, Kim, Tống, Nguyên.

Các tiểu thuyết Đại Đường du hiệp truyện, Long phượng bảo thoa duyên, Tuệ kiếm tâm ma, Nữ đế kỳ anh lục là truyền kỳ lịch sử đời Đường.

Nhiều nhân vật lịch sử xuất hiện trong tiểu thuyết, có người là nhân vật chính tác phẩm, từ Võ Tắc Thiên, Đường Huyền Tông, Ung Chính, Càn Long, Từ Hy thái hậu đến các đại thần như Chử Toại Lương, Vu Khiêm, Nạp Lan Minh Châu cho đến các thi nhân từ gia như Lý Bạch, Hạ Tri Chương, Nạp Lan Dung Nhược đến các lãnh tụ khởi nghĩa như Lý Tự Thành, Tương Đức Thành, Tào Phúc Điền, Lý Lai Trung… Nếu kể hết nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh thì phải chiếm hết một nửa bộ từ điển nhân vật lịch sử từ đời Đường đến đời Thanh.

Nhân vật giang hồ, hào kiệt võ lâm được hư cấu trong tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh thường trực tiếp tham dự vào những sự kiện lịch sử trọng đại hoặc chí ít cũng là người trải qua hay chứng kiến những sự kiện lịch sử đó. Họ thường xuất hiện ở hoàng cung đại nội, hoặc phủ đệ của các đại thần. Ngay từ Long hổ đấu Kinh Hoa cách cục cơ bản của tiểu thuyết Lương Vũ Sinh đã được định hình, thể hiện rõ đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết của ông.

Loại kết hợp lịch sử với truyền kỳ này bao gồm 4 tầng, nội dung khác nhau đó là: chính sử (hay tín sử), dã sử, văn học sử, sáng tạo và hư cấu của tác giả.

1. Chính sử, là lấy sự kiện lịch sử trọng đại và nhân vật lịch sử có thật làm tài liệu, đây là cái khung bên ngoài của tác phẩm.

2. Dã sử - bao gồm bộ phận chưa được chính sử ghi lại nhưng có thể có trong ghi chép của tư nhân hoặc truyền thuyết nhân gian, cũng bao gồm cả tưởng tượng sáng tạo, phân tích và bổ sung của tác giả đối với lịch sử; gồm cả phần đáng tin cũng bao gồm cả phần lời của nhà tiểu thuyết chưa chắc đã đáng tin, tức là tăng thêm sắc thái truyền kỳ và hứng thú nghệ thuật loại nội dung này trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh rất phong phú. Chẳng hạn như đĩnh kích án, hồng hoàn án trong nội cung nhà Minh được miêu tả trong Bạch phát ma nữ; hay những tình tiết như Thuận Trị xuất gia, Khang Hy giết cha, cái chết của Đổng Tiểu Uyên, v.v., được viết trong Thất kiếm hạ thiên sơn đều là căn cứ vào tài liệu lịch sử mà viết nên.

3. Văn học sử là chỉ lấy những câu chuyện truyền kỳ trong văn học sử về những hình tượng nhân vật, làm phục hoạt trong tác phẩm. Chẳng hạn như Không Không nhi trong Đại Đường du hiệp truyện, Hồng Tuyến Nữ, Nhiếp Ấn Nương trong Long Phượng bảo thoa duyên con cháu hảo hán Lương Sơn Bạc trong Phong Vân lôi điện… Những câu chuyện, nhân vật mà tiền nhân đã hư cấu này, vì đã trải qua thời gian dài lâu mà trở thành một bộ phận lịch sử (văn học sử), tuy không phải là chính sử, thậm chí cũng không phải là dã sử nhưng tác giả viết ra một cách hợp thời nên lại làm tăng thêm không khí lịch sử của tiểu thuyết, đồng thời làm tăng thêm ý vị truyền kỳ của tác phẩm.

4. Hư cấu của tác giả - đương nhiên bao gồm các nhân vật võ lâm do tác giả hư cấu nên tham dự vào lịch sử cũng bao gồm cả cuộc sống giang hồ của nhân vật võ lâm. Loại cuối cùng này là mạng sống của tiểu thuyết võ hiệp võ hiệp truyền thống, đương nhiên cũng là chủ thể của tiểu thuyết.

Tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh đã kết hợp lịch sử với truyền kỳ, đem 2 thứ vốn thuộc 2 lĩnh vực khác nhau (giang hồ và giang sơn) kết hợp lại sáng tạo nên một thế giới võ hiệp mới mẻ.

Cốt lõi hiệp nghĩa

Mãi mãi truy cầu tinh thần nghĩa hiệp là một đặc điểm quan trọng trong tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh. Ở điểm này ông không những chính thống mà còn bảo thủ, vì thế mà thường bị hiểu nhẩm, cho rằng ông rõ ràng là thuộc phái cũ, thậm chí không theo kịp sự phát triển của thời đại và sự thay đổi khẩu vị của độc giả.

Đây là một vấn đề khá phức tạp.

Bản chất trọng nghĩa của hiệp sĩ trong tiểu thuyết võ hiệp là điều đương nhiên, ít ra là trên phương diện lý luận. Trong tác yếu tố võ, hiệp, tình, kỳ của tiểu thuyết võ hiệp, hiệp đương nhiên là một yếu tố chiếm vị trí quan trọng.

Nhưng trong quá trình phát triển của tiểu thuyết võ hiệp, tình hình lại không như thế. Sự thay đổi tên gọi của tiểu thuyết võ hiệp cũng cho thấy điều đó. Tiểu thuyết hiệp nghĩa là tên gọi đầu tiên, rõ ràng khẳng định trọng điểm là hiệp nghĩa; tiếp đó lại mang tên gọi là tiểu thuyết võ hiệp (là cái tên mà chúng ta đang dùng ở đây), cái tên thứ hai này đã hàm ẩn một sự thay đổi vi diệu, tức đặt võ trước hiệp, hiệp đã lùi xuống vị trí thứ hai; nhưng sự tình vẫn chưa dừng lại, trong nói năng hàng ngày nhiều độc giả (thậm chí cả tác giả ), lại xuất hiện tên gọi tiểu thuyết võ đả (tiểu thuyết đánh võ, tên gọi này cũng tương đương với tên gọi truyện chưởng ở miền Nam trước đây) cũng như tên gọi phim võ trong điện ảnh. Trong những tên gọi này, đến cái bóng hiệp cũng không còn nữa.

Trong thực tế sáng tác của các tác gia, Truyền kỳ võ hiệp bị một số người viết thành truyện truyền kỳ có thêm đánh võ, mà bỏ quách tinh thần hiệp nghĩa (tinh thần trọng nghĩa của hiệp sĩ). Tình hình này ở phái cũ cũng có mà phái mới cũng có.

Trong tình hình ấy, Lương Vũ Sinh vẫn kiên trì giữ hiệp là chính, võ là phụ, thậm chí ông cho rằng thà rằng không có võ chứ không thể không có hiệp, võ chỉ là phương tiện, hiệp là mục đích. Thông qua thủ đoạn võ lực mà đạt tới mục đích hiệp nghĩa, điều này biểu hiện rõ ràng qua cá tính và phong cách độc đáo của Lương Vũ Sinh và tiểu thuyết của ông. Có lẽ người ta cho đây là một chứng cứ về sự thủ cựu của Lương Vũ Sinh; thực ra đây là sự giữ vững quy phạm tinh thần của tiểu thuyết võ hiệp chứ không phải là thủ cựu.

Ông nói:

…. Vậy thì, thế nào gọi là hiệp ? Về điều này có nhiều kiến giải khác nhau. Quan điểm của tôi là: hiệp là hành vi chính nghĩa! Thế nào gọi là hành vi chính nghĩa? Về điều này cũng có nhiều quan niệm, tôi cho rằng: đem lại lợi ích cho nhiều người là hành vi chính nghĩa.

(Lương Vũ Sinh: Từ quan điểm văn nghệ, đánh giá tiểu thuyết võ hiệp - Chuyển dẫn từ La Lập Quần - Lịch sử tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc - Liêu Ninh Nhân dân xuất bản xã)

Quan điểm này hiển nhiên là có sự khác biệt với truyền thống, có thể nói đây là một mô thức quan niệm mới mẻ. Lương Vũ Sinh không những luôn luôn nói vậy mà cũng luôn luôn làm vậy. Tinh thần trọng nghĩa của hiệp sĩ, là tinh thần căn bản trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh. Trong tác phẩm của ông, sự đối lập giữa hiệp nghĩa và tà ác không bao giờ mơ hồ. Về phương diện giá trị, sắc thái đạo đức của hiệp sĩ lớn hơn nhân tố cá tính, tinh thần lý tưởng của hiệp sĩ lớn hơn tính chất hiện thực của nó, ý nghĩa giáo dục được gửi gắm trong hình thức giải trí truyền kỳ.

Nói cụ thể, sự khắc hoạ hình tượng nhân vật chính trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh có 3 đặc điểm đáng chú ý:

1. Về loại hình nhân vật, chú ý là nổi bật khí chất cá tính của nhân vật.

2. Với tiền đề mô thức đó, chú ý miêu tả tính chất giáp ranh của nhân vật.

3. Trong nhân cách lý tưởng và mô thức đạo đức rất cố gắng miêu tả nhân tính chân thực.

Lương Vũ Sinh kiên trì giữ vững lý tưởng nghĩa hiệp, kiên trì mô thức nhân cách đạo đức đồng thời cố gắng khắc họa những cá tính rõ nét và hình tượng sinh động, để cho các nhân vật chính trong quá trình theo đuổi mục tiêu đại nghĩa luôn có biểu hiện thân phận trình độ, cá tính và khí chất của mình. Tác giả đã đặt nhân vật trong những mâu thuẫn xung đột phức tạp khiến cho họ có điều kiện trải qua những kinh lịch và biểu hiện những cá tính khác nhau. Ví dụ như Dương Văn Thông trong Tái ngoại kỳ hiệp truyện và Lăng Vị Phong trong Thất kiếm hạ Thiên Sơn tuy là huynh đệ đồng môn và cùng thực hiện sự nghiệp giống nhau, theo đuổi mục đích giống nhau, có lý tưởng đạo đức giống nhau, nhưng cá tính họ hoàn toàn khác nhau. Dương Văn Thông thì nhiệt tình phóng khoáng mà Lăng Vị Phong thì trầm uất dè dặt. Trương Đan Phong trong Bình tung hiệp ảnh thì tự tin, hài hước, tài hoa; mà Đoàn Khuê Chương trong Đại Đường du hiệp truyện thì cẩn thận, rụt rè. Lại chẳng hạn như 3 nhân vật chính trong Giang hồ tam nữ hiệp, tuy sánh vai hành hiệp nhưng khí chất và cá tính họ lại rất khác nhau. Lữ Tứ Nương có khí chất lãnh tụ, quả quyết mà cương nghị, nhiệt tình mà thâm trầm, Phùng Anh thì dịu dàng, sâu lắng, khí phách lỗi lạc hoạt bát, Phùng Lâm thì lại ngây thơ hoạt bát, vui vẻ nghịch ngợm, hơi có chút tà khí.

Hình tượng Kim Thế Di trong Vân Hải ngọc cung duyên càng khác với những hình tượng hiệp sĩ thông thường. Con người này tính tình quá khích, dám nghĩ dám làm, vừa chính vừa tà, cũng là một trong những nhân vật thành công của Lương Vũ Sinh. Sự chuyển biến và phát triển tính cách của nhân vật này là một trong những đoạn thành công nhất trong tiểu thuyết của ông. đều không thể bình luận một cách đơn giản, lấy danh thay cho thực. Sự chính và tà của mỗi người không phải do môn phái hay nghề nghiệp quyết định, mà do hành vi và sự chọn lựa lối sống của họ.

Thế giới tình cảm

Như chúng ta đã nhiều lần đề cập, tình cảm đã thành một nguyên tố quan trọng của tiểu thuyết võ hiệp hiện đại, từ tình hiệp Vương Độ Lư (tác giả tiểu thuyết Ngọa Hổ Tàng Long), chữ tình không bao giờ dứt được trong tiểu thuyết võ hiệp. Hầu như các tiểu thuyết võ hiệp tân phái đều nói đến tình yêu. Điều này khác với tiểu thuyết võ hiệp thời cổ (như kiệt tác Thủy Hử chẳng hạn), từ đó có thể thấy được bước tiến của thời đại. Đã có Vương Độ Lư mở đường lại có nhiều tác phẩm tiếp bước thì sao lại có một thế giới tình cảm đặc sắc trong tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh nữa đây? Nhìn bề ngoài, sự miêu tả tình cảm trong tiểu thuyết võ hiệp của Lương Vũ Sinh có vẻ không khác gì các tác giả khác. Có khác chăng thì cũng chỉ là ông giữ vững chính sách, thậm chí còn khá bảo thủ. Chuyện tình trong tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh giữ vững quy phạm văn hóa đạo đức truyền thống “phát ra từ tình, dừng lại ở lễ nghĩa” ôn nhu đôn hậu, đẹp đẽ thanh nhã, khác với nhiều tác giả sau này miêu tả sắc, dục lấn át cả tâm, tình để câu độc giả. Chuyện tình trong tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh là tình cảm có tính chất tâm linh, tinh thần chứ không phải là xung động tình dục, là cái đẹp của tình yêu, chứ không phải bản năng tầm thường. Vì thế mà ông viết về tình yêu rất đẹp, rất thuần khiết. Chính vì thế mà tình cảm trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh luôn luôn được tác giả tiết chế, khí phách hiệp sĩ và tình yêu dịu dàng.

Cái độc đáo của chuyện tình trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh đưọc thể hiện thực sự ở:

1. Sự trân trọng đối với tình yêu, trở thành linh hồn chân chính của sáng tác tiểu thuyết võ hiệp.

2. Tôn trọng phụ nữ - trong tiểu thuyết không những đã thực hiện nam nữ bình đẳng mà thậm chí còn có vẻ âm thịnh, dương suy.

3. Có sự khám phả tâm linh khiến thế giới tình cảm trong tiểu thuyết võ hiệp hiện ra nhũng cảnh quan kỳ diệu khác với trong tác phẩm của những tác giả khác.

Về sự tôn trọng nữ giới:

Sự không tôn trọng phụ nữ trong văn hóa truyền thống Trung Quốc đã ảnh hưởng đến thành tựu sáng tác của rất nhiều danh gia tiểu thuyết võ hiệp đương đại. Chẳng hạn như hai danh gia Đài Loan nổi tiếng Cổ Long và Ngọa Long Sinh, hai vị nòi rồng này trong tiểu thuyết của mình tất nhiên cũng tả tình yêu, tả nữ giới, thậm chí viết đến mức nữ mạnh nam yếu (như trong tiểu thuyết Ngọa Long Sinh), nhưng từ trong sâu thẳm tâm linh của họ lại không tôn trọng phụ nữ. Câu danh ngôn của Cổ Long là anh em như tay chân, đàn bà như áo mặc, vì thế mà Lý Tầm Hoan đã đem người yêu mình là Lâm Thi Âm tặng cho bạn là Long Thiếu Vân; cũng vì thế mà Sở Lưu Hương đến đâu cũng chỉ lưu hương mà chẳng lưu tình. Câu danh ngôn của Ngọa Long Sinh là hồng nhan là tai họa, vì thế mà các giai nhân tuyệt sắc chỉ toàn gây họa cho võ lâm.

Còn hình tượng nữ giới dưới ngòi bút của Lương Vũ Sinh xứng đáng là nhất tuyệt. Nữ giới trong lòng và trong sách của Lương Vũ Sing không phải là gia vị mà cũng không phải sinh ra vì tình, họ tự có giá trị nhân sinh độc lập và có mục tiêu của mình. Như đã nói, những hình tượng như Bạch Phát ma nữ, Phi Hồng Cân, Lữ Tứ Nương, Phùng Anh, Phùng Lâm, Băng Xuyên Thiên Nữ và Lệ Thắng Nam xứng đáng là những hình tượng nghệ thuật thành công nhất trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh.

Hình tượng nữ giới trong tiểu thuyết Lương Vũ Sinh tỏa sáng còn do một nguyên nhân nữa, đó là những hình tượng nữ giới này ít khi bị trói buộc bởi lễ giáo truyền thống và những quy ước hiệp nghĩa, từ đó mà họ ngây thơ phóng khoáng, dám nghĩ dám làm, biểu hiện một cách tự nhiên giá trị tôn nghiêm và tài trí của nữ giới, đồng thời cũng biểu hiện rõ ràng đặc trưng khí chất và tâm lý cá nhân, tránh được sự khái niệm hóa và công thức hóa.

(*) Tác giả cuốn “Kim Dung tiểu thuyết nhân vật đàm”.

Continue reading...

làm thế nào để đừng nổi tiếng?

Sat, Nov 26, 2011

0 Comments

Tôi không rõ có cách nào để người ta đừng bao giờ nổi tiếng hay không, tất nhiên đây là đang nói đến lớp người làm văn nghệ, chứ công này việc khác không dính gì đến đàn ca hát xướng chắc chắn yên phận hơn nhiều, chẳng bao giờ phải lo bị nổi tiếng hay là tai tiếng. Nổi tiếng thì kèm với tai tiếng như món khuyến mại tặng kèm lúc bạn đi siêu thị vào mùa giảm giá. Nổi tiếng thì trăm mắt nhìn vào, nghìn miệng bình phẩm, dù có khôn khéo mấy hoặc là biết cách sống uốn lượn như rắn cũng vẫn cứ chết, cứ tơi tả, cứ xì căng đan không to thì nhỏ. Tôi không rõ có cách nào để sống giữa rừng gươm như thế mà vẫn điềm tĩnh thư thả, ngủ vẫn ngon giấc và sáng ra nhìn vầng dương lên vẫn mỉm cười được không, hay là cứ nổi tiếng là buộc phải trốn đời, trốn dư luận, trốn báo giới, trốn các thể loại hâm mộ, trốn cả gia đình mình nữa?

Hồi 2004, tức là bảy năm trước, tôi buộc phải trốn nhà, mà “nhà” nào phải to tát gì - chỉ có mẹ tôi, người mẹ già kỹ tính hay lo, khóc khô nước mắt vì sáng nào cũng thấy báo giật tít tên con mình ăn cắp.

Điều đó gọi là gì nếu không phải là nhẫn tâm và ngu xuẩn?

***

Làm thế nào để tránh scandal, tôi không biết. Dư luận luôn muốn tìm hiểu, tọc mạch, săm soi đời tư những người nổi tiếng, điều này đã trở thành một thứ tập quán xã hội, nhất là xã hội phương Đông vốn kín đáo - càng kín đáo người ta càng tò mò, không ai làm tình nơi công cộng nên mới có thói nhòm lỗ khóa; không ai dại đến mức mỗi lần yêu cũng phải một lần báo cáo với truyền thông, thế nên truyền thông mới săm soi tận chân giường những người nổi tiếng. Scandal là đứa con ruột của truyền thông, của dư luận, không phải con dù là con ghẻ con rơi của người nổi tiếng. Scandal là món quà không muốn cũng phải nhận và bán lại không ai mua; chỉ người nổi tiếng - bản thân đương sự - tùy nghi xử lý dựa vào độ bình tĩnh và kinh nghiệm sống của chính mình.

Tôi đối phó với scandal bằng cách không trốn xã hội, vẫn làm việc bình thường, chỉ trốn mẹ tôi. Tôi không chịu nổi những giọt nước mắt. Hồi 2004, mẹ tôi một thân một mình lủi thủi ở gian nhà cũ hẻm nhà thờ Thăng Long, tôi thì đang vướng vào việc tòa án xử ly dị, một chuyện đã phiền huống hồ thù trong giặc ngoài. Tôi chứng kiến cảnh anh Bảo Chấn suy sụp sau khi bị kết tội như thế nào, bị hạ đường huyết suýt đột quỵ ra sao, nỗi buồn và sự đen tối phủ vây chẳng phải vì anh Chấn “sợ” dư luận phát sốt phát rét, mà vì cảm thấy mình đã đem lại phiền toái cho vợ con. Tôi thì đem phiền cho mẹ. Tội bất hiếu.

Chuyện đúng sai hay dở trong nghệ thuật, tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy bất kỳ phó thường dân nào, kẻ ngoại đạo nào, cũng chõ miệng vào bàn được. Hay là xứ mình nó thế?

Tôi nhớ một buổi chiều hội đồng xét duyệt tác phẩm đến xem chương trình Giai Điệu Xanh mà tôi dàn dựng ở nhà hát Bến Thành, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn bắt tay tôi cười, sao, đỡ nhức đầu chưa, ai biểu nổi tiếng! Vâng thì thế, vô danh tiểu tốt chắc là bình yên.

***

Làm thế nào để đừng nổi tiếng, hay là nếu lỡ nổi tiếng rồi thì cứ vờ như mình vô danh? Cách này, theo tôi khả thi. Đừng để tâm đến thiên hạ, cứ đường mình mình đi việc mình mình làm. Mấy năm nay tôi đặt ra nội quy cấm người nhà đem báo Việt về, âu cũng là phương cách tốt để miễn nhiễm với dư luận, với tin chó cán xe, tin nhảm, lời nói hồ đồ. Phúc cho tôi là mẹ tôi hồi sức sau những năm đau buồn ấy. Phúc cho tôi là tôi vẫn còn bạn bè, công việc, niềm vui, tình yêu. Tôi chả mất gì. Chỉ kẻ buôn chuyện bán tin mới tổn sức, và tổn thọ.

Nhưng suy cho cùng, dễ sống nhất vẫn là vô danh. Vô danh đi, đấy là ân sủng của đời dành cho bạn.

Ai biểu nổi tiếng! Anh Phạm Minh Tuấn có lý.

[viết cho Sành Điệu số tháng 12/2011]

Continue reading...
Older Entries